Quản lý tài chính công là gì? Hiểu toàn diện về quản lý tài chính công Việt Nam

4.5/5 - (8 bình chọn)

Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội. Vậy Quản lý tài chính công là gì và có những đặc điểm cụ thể như thế nào? Cùng Luận Văn 24 trả lời những câu hỏi này nhé.

1. Khái niệm Tài chính công và quản lý tài chính công 

1.1. Khái niệm Tài chính công là gì?

Tai-chinh-cong-la-gi
Tài chính công là gì?
  • Tài chính công được định nghĩa là toàn bộ hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, thực thi. Tài chính công phản ánh các mối quan hệ kinh tế được phát sinh qua quá trình xây dựng và sử dụng các hệ thống quỹ công. 
  • Mục đích chính của tài chính công là phục vụ cho thực hiện các chức năng của nhà nước và đảm bảo yếu tố lợi ích chung, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội.
  • Yếu tố chủ đạo trong tài chính công là Ngân sách nhà nước. Trong đó, nguồn thu của Ngân sách nhà nước là từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội. 

Xem thêm tài liệu tài chính liên quan

1.2. Khái niệm Quản lý tài chính công là gì? 

Quan-ly-tai-chinh-cong-la-gi_
Quản lý tài chính công là gì?
  • Quản lý tài chính công (TCC) là một nội dung của quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó trong quản lý TCC các vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ.
  • Trong hoạt động TCC, chủ thể quản lý TCC là Nhà nước hoặc các cơ quan Nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Chủ thể trực tiếp quản lý TCC là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.
  • Đối tượng của quản lý TCC là các hoạt động của tài chính công. Nói cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của TCC; hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ TCC diễn ra trong các bộ phận cấu thành của TCC. Đó cũng chính là các nội dung chủ yếu của quản lý TCC.
  • Hoạt động tài chính không chỉ chịu sự chi phối bởi bản thân hoạt động của con người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính, mà còn chịu sự chi phối bởi môi trường kinh tế – xã hội khách quan mà tài chính đang tồn tại và vận động.
  • Do đó, trong quản lý tài chính nói chung và quản lý TCC nói riêng, để đạt tới các mục tiêu đã định, một mặt phải tác động vào môi trường kinh tế – xã hội khách quan mà tài chính đang tồn tại và vận động, mặt khác phải tác động vào các hoạt động của con người đang chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính để điều khiển các hoạt động tài chính phù hợp với các yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội và ý muốn chủ quan của người quản lý nói chung và của Nhà nước nói riêng.

2. [3 Phương pháp ] quản lý tài chính công 

Phuong-phap-quan-ly-tai-chinh-cong
Phương pháp quản lý tài chính công

2.1. Phương pháp tổ chức 

Phương pháp tổ chức được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của Tài chính công theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của TCC.

2.2. Phương pháp hành chính 

Phương pháp hành chính được sử dụng khi các chủ thể quản lý tài chính công muốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện. Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính

2.3. Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động tài chính công .

3. Chức năng của tài chính công

Chuc-nang-tai-chinh-cong
Chức năng tài chính công

3.1. Chức năng tạo lập nguồn vốn

  • Chức năng tạo lập nguồn vốn là một trong những chức năng thiết yếu của tài chính nói chung và tài chính công nói riêng.
  • Trong quy trình tạo lập nguồn vốn, chủ thể chính là Nhà nước và đối tượng của quá trình là các nguồn tài chính trong xã hội mà Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia điều phối. Chức năng này của tài chính công mang đặc thù liên quan tới quyền lực chính trị của Nhà nước.

3.2. Chức năng phân phối và phân bổ

Trong chức năng phân phối và phân bổ, chủ thể là Nhà nước- đơn vị tập trung quyền lực chính trị; đối tượng phân phối và phân bổ bao gồm:

  • Tài chính công trong ngân sách Nhà nước
  • Quỹ tiền tệ khác của Nhà nước
  • Nguồn thu từ các đơn vị kinh tế, các pháp nhân trong xã hội do nhà nước đóng vai trò tham gia điều tiết

Tài chính công thực hiện sự phân chia nguồn lực tài chính công giữa các chủ thể Nhà nước, chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế với Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng thiết yếu của Nhà nước.

Ngoài chức năng phân phối, tài chính công còn có chức năng phân bổ. Thông qua chức năng này, các nguồn nhân lực tài chính công được phân bổ theo ý định có chủ đích của Nhà nước.

3.3. Chức năng giám đốc, điều chỉnh

  • Với tư cách là một công cụ quản lý trong tay Nhà nước, Nhà nước vận dụng chức năng giám đốc và điều chỉnh của tài chính công để kiểm tra bằng tiền đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính công và điều chỉnh quá trình đó theo các mục tiêu mà Nhà nước đề ra. 
  • Chủ thể của quá trình giám đốc và điều chỉnh là Nhà nước. Đối tượng của sự giám sát đốc và điều chỉnh là quá trình vận động của các nguồn tài chính công trong sự hình thành vừa sử dụng các quỹ tiền tệ.
  • Giám đốc bằng đồng tiền là vai trò khách quan của tài chính nói chung. Tài chính công cũng thực hiện sự giám đốc bằng đồng tiền đối với mọi sự vận động cả các nguồn tài chính công, thông qua đó biểu hiện các hoạt động của các chủ thể thuộc Nhà nước.
  •  Còn chức năng điều chỉnh của tài chính công được thực hiện trên cơ sở các kết quả của giám đốc, là sự tác động có ý chí của Nhà nước nhằm điều chỉnh các bất hợp lý trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công.

4. Đặc điểm của quản lý tài chính công

Dac-diem-tai-chinh-cong
Đặc điểm của quản lý tài chính công

4.1. Đối tượng quản lý 

  • Đối tượng của quản lý tài chính công là các hoạt động của TCC. Tuy nhiên, các hoạt động của TCC lại luôn gắn liền với các cơ quan Nhà nước – các chủ thể của TCC. Các cơ quan này vừa là người thụ hưởng nguồn kinh phí của TCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của TCC. Do đó, các cơ quan này cũng trở thành đối tượng của quản lý TCC.
  • Lấy chất lượng, hiệu quả đã đạt được của các hoạt động TCC làm cơ sở để phân tích đánh giá động cơ, biện pháp tổ chức, điều hành hoạt động TCC của các cơ quan Nhà nước là đòi hỏi và là nguyên tắc của quản lý TCC. Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho các nguồn lực tài chính của Nhà nước được sử dụng hợp lý và có hiệu quả, tránh được tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng công quỹ.
  • Quản lý TCC thực chất là quản lý các quỹ công, quản lý các hoạt động tạo lập (thu) và sử dụng (chi) các quỹ công, do đó sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý yếu tố con người với quản lý yếu tố hoạt động tài chính là đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.

4.2. Việc sử dụng các phương pháp quản lý TCC

  • Như đã đề cập ở trên, trong quản lý tài chính công có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, các đòn bẩy kinh tế, thanh tra – kiểm tra, đánh giá…). 
  • Mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm riêng, có cách thức tác động riêng và có các ưu, nhược điểm riêng. Nếu như phương pháp tổ chức, hành chính có ưu điểm là đảm bảo được tính tập trung, thống nhất dựa trên nguyên tắc chỉ huy, quyền lực thì lại có nhược điểm là hạn chế tính kích thích, tính chủ động của các cơ quan tổ chức hoạt động TCC.
  • Ngược lại, các phương pháp kinh tế, các đòn bẩy kinh tế có ưu điểm là phát huy được tính chủ động, sáng tạo nhưng lại có nhược điểm là hạn chế tính tập trung, thống nhất trong việc tổ chức các hoạt động TCC theo cùng một hướng đích.
  • Do đó, trong quản lý TCC, tuỳ theo đặc điểm của đối tượng quản lý cụ thể mà có thể lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác làm phương pháp nổi bật trên nguyên tắc chung là phải sử dụng đồng bộ và kết hợp chặt chẽ các phương pháp và công cụ quản lý.
  • Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động TCC là luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước, nên trong quản lý TCC phải đặc biệt chú trọng tới các phương pháp, công cụ mang tính quyền uy, mệnh lệnh để đảm bảo tính tập trung, thống nhất. Đó là các phương pháp tổ chức, hành chính, các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.

4.3. Quản lý nội dung vật chất của TCC

  • Nội dung vật chất của TCC là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ thuộc sở hữu Nhà nước mà Nhà nước có thể chi phối và sử dụng trong một thời kỳ nhất định. Các nguồn tài chính đó có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản, nhng tổng số nguồn lực tài chính đó là biểu hiện về mặt giá trị, là đại diện cho một lượng của cải vật chất của xã hội.
  • Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự vận động của các nguồn tài chính phải ăn khớp với sự vận động của của cải vật chất mới đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Điều đó càng có ý nghĩa và cần thiết bởi vì tổng nguồn lực tài chính mà Nhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lực tài chính của toàn xã hội.
  • Do đó, trong quản lý tài chính công, không những phải quản lý nguồn tài chính đang tồn tại cả dưới hình thức tiền tệ, cả dưới hình thức tài sản, mà còn phải quản lý sự vận động của tổng nguồn lực TCC – sự vận động về mặt giá trị – trên cơ sở tính toán để đảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động – sự vận động về mặt giá trị sử dụng – trong đời sống thực tiễn.

5. 4 Nguyên tắc quản lý tài chính công ở nước ta

Nguyen-tac-quan-ly-tai-chinh-cong-o-nuoc-ta
Nguyên tắc quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay

5.1. Tập trung dân chủ 

  • Trong quản lý tài chính công, tập trung dân chủ là nguyên tắc hàng đầu. Yếu tố này được thể hiện qua quản lý ngân sách nhà nước, quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính và quản lý tài chính nhà nước.
  • Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo cho các nguồn lực xã hội, kinh tế được phân phối hợp lý.
  • Để đảm bảo tính dân chủ, toàn bộ các khoản thu-chi trong tài chính công cần được bàn bạc và công khai minh bạch với mục đích mang tới các giá trị lợi ích cho cộng đồng.

5.2. Hiệu quả 

  • Quản lý tài chính công tại nước ta vô cùng chú trọng nguyên tắc hiệu quả trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị và xã hội. Trong quá trình thực hiện nội dung chi tiêu công cộng, Nhà nước luôn hướng tới và đặt yếu tố lợi ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng lên hàng đầu.
  • Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cũng là những thước đo quan trọng và quyết định trực tiếp đến các vấn đề chi tiêu công.

5.3. Thống nhất 

  • Tài chính công nước ta được thống nhất thực hiện theo các văn bản pháp luật và quy định đã được thông qua và ban hành.
  • Toàn bộ hệ thống hình thành, sử dụng, thanh tra kiểm tra, quyết toán, xử lý vướng mắc đều được thực hiện theo luật và được đảm bảo tính chính xác, minh bạch, bình đẳng; hạn chế tối đa các yếu tố tiêu cực, rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu công.

5.4. Công khai, minh bạch 

  • Trong các hoạt động động viên, phân phối nguồn lực tài chính công, nguyên tắc công khai, minh bạch là yếu tố hàng đầu nhằm đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả cho quy trình.
  • Ở mức độ lý tưởng, tài chính công cần minh bạch trước cộng đồng và sẵn sàng công khai các số liệu liên quan về thu chi trong quản lý tài chính công, hạn chế và triệt tiêu các yếu tố thất thoát, tham nhũng, đảm bảo tối ưu lợi ích cộng đồng.

6. Nội dung quản lý tài chính công – Cải cách tài chính công hiện nay

Noi-dung-quan-ly-tai-chinh-cong
Nội dung quản lý tài chính công

6.1. Thứ nhất 

  • Nội dung được đề cập tới đầu tiên trong cải cách tài chính công hiện nay là vấn đề đổi mới các cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách.
  • Đồng thời đảm bảo vấn đề thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo ngân sách trung ương.
  • Bên cạnh đó, hướng tới phát huy sự tích cực chủ động, sáng tạo của địa phương trong điều hành ngân sách và tài chính.

6.2. Thứ hai 

  • Nội dung thứ hai yêu cầu đảm bảo quyền tự quyết về ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý công việc mang tính chất địa phương; quyền quyết định phân bổ ngân sách cho đơn vị trực thuộc của Sở, Bộ, Ban, Ngành và quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách theo phạm vi dự toán được phê duyệt và được thực thi theo các quy định của Nhà nước.

6.3. Thứ ba

  • Dịch vụ công cần thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, gỡ bỏ chế độ cung cấp kinh phí dựa theo chất lượng hoạt động; chuyển sang kiểm soát đầu ra, chất lượng chỉ tiêu theo mục tiêu của các đơn vị nhận nguồn cung tài chính công đặt ra. Đồng thời, đổi mới hệ thống định mức chi tiêu một cách đơn giản hơn.

6.4. Thứ tư

Tiến hành xây dựng các bước tiến mới về chế độ tài chính đối với khu vực dịch vụ công.

  • Đưa ra các định nghĩa, quan niệm đúng về dịch vụ công. Đảm bảo yếu tố trách nhiệm của Nhà nước, thông qua tài chính công thực thi các yếu tố dịch vụ công để nâng cao chất lượng vật chất và văn hóa tinh thần cho người dân. Đồng thời, Nhà nước cần xây dựng các hệ quy chiếu, quy định để kiểm soát, đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu, chất lượng của các đơn vị nhận đầu tư từ Nhà nước.
  • Gỡ bỏ hình thức cấp phát tài chính với các đơn vị có khả năng tự lực hoặc tự lực 1 phần về tài chính như: bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu,… trên cơ sở xác định các nhiệm vụ và mức độ cần thiết hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước.

6.5. Thứ năm

Thực hiện một số cơ chế tài chính mới như:

  • Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở dịch vụ công như bệnh viện, trường học,…
  • Khuyến khích đầu tư nước ngoài phát triển các trường học, bệnh viện, trung tâm nghề chất lượng cao tại các thành phố, khu công nghiệp. 
  • Thực hiện cơ chế khoán với một số loại dịch vụ công như: xây dựng công viên, vệ sinh đô thị, cung cấp nước phục vụ nông nghiệp,…

6.6. Thứ sáu

Tiến hành đổi mới công tác kiểm toán với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp với mục đích nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước theo phương châm: dân chủ, công khai và minh bạch tuyệt đối về tài chính công.

7. Thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam hiện nay

Thuc-trang-quan-ly-tai-chinh-cong-o-Viet-Nam
Thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam

7.1. Kết quả đáng ghi nhận

  • Hệ thống thuế đổi mới theo hướng thích nghi với cơ chế thị trường và được đánh giá là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tính đến nay nguồn thu thuế đã cơ bản đảm bảo được các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu.
  • Ngân sách Nhà nước đã chuyển hướng sang đầu tư phát triển, ưu tiên nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, thay vì hàng loạt các yếu tố, chính sách bao cấp như trước. Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
  • Huy động nguồn vốn ODA và sử dụng hiệu quả hơn để thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Giải quyết các vấn đề hộ đói- nghèo và dịch bệnh của đất nước thời gian qua.
  • Thu hút vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và sử dụng nguồn lao động hiệu quả. 

7.2. Hạn chế cần khắc phục trong tương lai

  • Chất lượng và hiệu quả của các phương pháp cải cách tài chính công còn hạn chế, có dấu hiệu thiếu ổn định.
  • Nhu cầu vốn đầu tư tăng nhưng mức độ đáp ứng vốn còn rất nhiều hạn chế
  • Nguồn ODA và vốn đầu tư nước ngoài tuy dồi dào nhưng chưa được khai thác tốt.

Như vậy, kết hợp quản lý, đảm bảo tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng là một đặc điểm quan trọng khác của quản lý Tài chính công. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì hoặc cần đến dịch vụ làm luận văn tài chính vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.

5/5 (1 Review)
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

Contact Me on Zalo
0988 55 2424