Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên dịch vụ chỉnh sửa luận văn sẽ phân tích nội dung chi tiết của từng nhu cầu trong tháp nhu cầu của Maslow. Đây là một nội dung quan trọng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và công việc của chúng ta. Cùng khám phá nào!

Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow

Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow

1. Lịch sử học thuyết của Maslow

Một điều thú vị trong những năm đầu tiên của sự nghiệp tâm lý của mình ông phát hiện ra những con khỉ do ông thí nghiệm luôn có một số nhu cầu đặc biệt quan trọng hơn những nhu cầu khác. Chẳng hạn giữa đói và khát, nhu cầu khát phải được ưu tiên trước. Và vì thế nhu cầu khá quan trọng hơn nhu cầu đói. Nếu phải chọn giữa đáp ứng nhu cầu khát và nhu cầu khỏi bị kim chích đau đớn, nhu cầu tránh bị chích kim sẽ cao hơn. Rồi phải chọn giữa chích kim và không khí để thở. Nhu cầu cần được thở sẽ thắng. Còn nhu cầu tính dục xem ra vẫn chưa phải là nhu cầu quan trọng nhất. 

Ông nhận ra ý nghĩa áp dụng của khám phá này và xây dựng một hệ thống nhu cầu theo cấp bậc rất nổi tiếng. Trong hệ thống này, ông đưa ra 5 nấc thang nhu cầu có nội dung bao hàm hơn, được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần nâng cao như sau: 

1) Tầng nhu cầu sinh lý. 

2) Tầng nhu cầu an toàn. 

3) Tầng nhu cầu tình cảm và được chấp nhận. 

4) Tầng nhu cầu được tôn trọng. 

5) Tầng nhu cầu được giác ngộ.

2. Phân tích nội dung của từng bậc nhu cầu trong tháp Maslow

– Nhu cầu sinh lý: Bao gồm những nhu cầu về khí oxy, nước uống, chất đạm, muối, đường, canxi và những sinh tố vi lượng khác. Những yêu cầu này giúp cơ thể duy trì một độ pH cân bằng (không quá kiềm và không quá axít), một nhiệt độ ổn định 37 độ C, những nhu cầu vận động, nghỉ ngơi, bài tiết, giữ cho cơ thể ấm áp (khi trời lạnh), mát mẻ (khi trời nóng), tránh thương tật đau đớn. Nhu cầu tính dục sinh sản cũng thuộc nhóm này. 

Maslow tin như thế vì kết quả nghiên cứu đã ủng hộ ông đây là những nhu cầu cần thiết của từng cá nhân một. Chẳng hạn như thiếu vitamin C, cơ thể sẽ tìm đến những loại thức ăn có chứa vitamin C. Ví dụ thường thấy ở các phụ nữ trong thời gian mang thai. 

– Nhu cầu an toàn: Khi những nhu cầu sinh lý được bảo đảm và đáp ứng đầy đủ, một cá nhân thường có xu hướng đi tìm cho mình một hoàn cảnh sống an toàn ổn định và được bảo vệ. Họ có những nhu cầu mới về trật tự an toàn, nơi sống cần có tổ chức và những quy định giới hạn cụ thể. 

Lúc này cơ thể không còn thật sự ưu tư đến chuyện ăn mặc, nhưng có những lo lắng băn khoăn về sự an toàn trong môi trường sống như: khu dân cư an toàn, công việc làm chắc chắn và ổn định. Họ nhắm đến tích lũy cho tương lai ngày mai. Họ lo về thất nghiệp, bệnh tật, tốn kém… nói chung là những nỗi lo vừa có cơ sở và cả những nỗi lo vô căn cứ khác. 

– Nhu cầu tình cảm và được chấp nhận: Sau khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được thỏa mãn, nhu cầu tình cảm và được chấp nhận là nhu cầu kế tiếp. Bây giờ một cá nhân có nhu cầu về một người bạn tình, một vài người bạn thân, xây dựng gia đình, có con cái, được quan tâm và được chia sẻ. Nói khác đi, nhiều cá nhân cảm thấy sợ cô đơn, cảm thấy mình thiếu vắng. Họ có những lo lắng về mặt xã hội. Đây là những ưu tư thường gặp hằng ngày. Chúng ta muốn tổ chức đám cưới, muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, tham gia các công việc cộng đồng, đi nhà thờ, tham gia hội đoàn, gia nhập câu lạc bộ, đi chơi công viên, ngay cả việc chúng ta chọn những công việc có cơ hội tiếp xúc với con người. 

– Nhu cầu được tôn trọng: ở đây, Maslow chia nhu cầu này thành hai nấc nhỏ hơn: (a) nhu cầu được người khác tôn trọng với những giá trị tinh thần khác như danh dự, địa vị, vinh quang, được công nhận, được chú ý, có những tiếng khen tốt, được đánh giá cao, cả việc được thống trị và điều khiển người khác. (b) nhu cầu cao hơn là nhu cầu tự trọng như niềm tự hào, tự tin, có khả năng, đạt được thành quả, đạt được thành tựu, khả năng độc lập, tự do. Theo Maslow, một khi chúng ta đã có lòng tự trọng, sẽ khó có ai lấy chúng khỏi tay ta được. 

Nếu không thỏa mãn được nhu cầu này, một cá nhân sẽ rơi vào trạng thái không có lòng tự trọng (hoặc có nhưng thấp). Họ vướng vào mặc cảm khiếm khuyết. Maslow đồng ý với Adler rằng phải có một nguyên nhân nào đó là cội rễ của những bất ổn về mặt tâm lý. Trong cuộc sống hiện đại, chúng ra không còn phải quá sức lo lắng đến nhu cầu vật chất và nhu cầu an toàn. Chúng ta tương đối bằng lòng với đời sống tình cảm của mình. Tuy nhiên, nhu cầu được tôn trọng đối với một số người xem ra vẫn còn là một vấn đề khó đạt được. 

Tất cả 4 nhu cầu vừa nêu trên ông đặt tên là nhu cầu D-needs. Chữ D được viết tắt của chữ thiếu thốn. Có nghĩa là nếu không được thỏa mãn những nhu cầu trên, một cá nhân sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt và các nhu cầu này cần phải được đáp ứng. Khi các nhu cầu D–needs này được thỏa mãn, ta sẽ không còn động cơ nữa và sẽ chuyển dần theo nấc thang cao hơn. Như tục ngữ của người Việt Nam có những câu: Lợn no chê cám. Đói cơm tẻ thèm thịt thèm xôi. Khi no cơm tẻ tôi thôi mọi đàng. 

Ông còn nói về những nhu cầu trên qua một khái niệm sinh học hằng định nội môi, một trạng thái tự điều chỉnh để bảo đảm tính ổn định cho những chức năng vận động bên trong của cơ thể, dù cho có sự thay đổi ở môi trường bên ngoài. Khi cơ thể cần một loại vật chất nào đó, tự động sẽ có một sự khao khát, nhưng sau khi cơ thể được thỏa mãn sẽ không còn cảm giác thèm muốn nữa. Điều này giúp cơ thể cân bằng: Không quá thiếu và không quá dư. Tất cả những nhu cầu trên có lối vận hành tương tự như thế, song đôi lúc chúng ta thường không nhận ra. 

Maslow tin rằng, tất cả những nhu cầu D–needs trên rất cần thiết cho nhu cầu sinh tồn. Ngay cả nhu cầu tình cảm và được tôn trọng cũng rất cần thiết để duy trì một cơ thể lành mạnh. Ông cho rằng tất cả chúng ta có những nhu cầu này được cài đặt sẵn bên trong qua ngả di truyền học, giống như bản năng vậy. Ông đã đặt tên cho chúng là bán–bản năng (instinctoid – instinct–like). 

Nói theo mô hình phát triển, chúng ta trải qua từng cấp độ nhu cầu tương tự như quá trình chúng ta trải qua những giai đoạn phát triển. Khi còn là trẻ sơ sinh chúng ta cần đến nhu cầu sinh lý qua những chăm sóc từ bên cha mẹ. Rồi sau đó các em bé cần có nhu cầu được an toàn. Rồi lớn hơn một chút, ta muốn được người khác chú ý và quan tâm. Lớn hơn nữa, ta có nhu cần được tôn trọng và tự trọng. Những nhu cầu này có thể phát triển trước khi bé biết nói. 

Dưới những điều kiện đầy áp lực, hoặc khi những nhu cầu sinh tồn bị đe dọa, chúng ta có thể có xu hướng quay ngược trở lại quá khứ với nấc nhu cầu thấp hơn. Khi ta bị thất nghiệp hoặc bị sa thải khỏi sở làm, ta sẽ quay trở về với trạng thái khiêm tốn hơn trước đó. Khi mất tất cả những địa vị cao sang và rơi vào sa cơ thất thế, chúng ta thường nghĩ đến những bảo đảm kinh tế trước mắt. 

Tình trạng này cũng xảy ra trên bình diện xã hội rộng lớn. Khi kinh tế của một khu vực hay một nước có những thay đổi, công dân của khu vực và những quốc gia ấy thường có những biểu hiện lo lắng dưới nhiều cung bậc khác nhau có thể nhận ra rất rõ. Khi chiến tranh xảy ra, người ta nhốn nháo bỏ làng, bỏ phố đi sơ tán. Thiên tai bão lụt bao giờ cũng có những tác động tâm lý nhất định lên những người bị nạn và cả những người sinh sống xa cách với vùng bị nạn. 

Maslow đề nghị rằng khi hỏi một cá nhân mô tả về mô hình cuộc sống lý tưởng trong tương lai sẽ cho ta một cái nhìn tương đối chính xác về những nhu cầu nào cá nhân ấy đang thiếu. Vì trong tâm thức chung, chúng ta thường nói về những điều chúng ta chưa có.

Nếu một cá nhân có những vấn đề khó xử hoặc không có những phát triển thuận lợi – nhất là trong lúc thật cô đơn, bị hắt hủi, bị lạm dụng và ngược đãi, đói khát, lo lắng, sợ hãi, cha mẹ li dị, chứng kiến cảnh người thân nằm xuống như vậy cá nhân có thể bị kẹt/khựng trong nhu cầu đó trong suốt cả phần cuộc đời còn lại của mình. 

Đây là cách mà Maslow đã nhìn và hiểu về bệnh thần kinh. Ví dụ bạn trải qua kinh nghiệm chiến tranh lúc còn là một đứa trẻ, chứng kiến nhiều tháng ngày đói khát vì khan hiếm thức ăn. Khi có đầy đủ điều kiện, bạn vẫn có thói quen dự trữ thức ăn vì ám ảnh bởi những tháng ngày thiếu hụt. Hoặc nếu một chàng trai chứng kiến cảnh bố mẹ li dị lúc anh còn bé, giờ đây có một người vợ lý tưởng tuy nhiên anh vẫn lo lắng bồn chồn, thầm ghen và lo sợ. Anh chàng cứ u ám với ý nghĩ một ngày nào đó vợ anh sẽ bỏ anh ra đi như bố mẹ anh đã chia tay khi anh còn nhỏ.

– Giác ngộ: Đây là bậc phát triển cuối cùng trong nấc thang nhu cầu. Đã có lần ông gọi đây là động cơ phát triển để đối nghịch với khái niệm động cơ vì thiếu hụt. Có lúc ông gọi đây là B–needs. B là viết tắt của chữ hiện hữu để đối chiếu với D–needs, vốn là nhóm 4 nhu cầu một cá nhân phải thỏa mãn trước khi một cá nhân có thể đạt đến cảnh giới nhu cầu cao nhất này. 

Những nhu cầu không liên hệ đến cân bằng hằng định nội môi, là những nhu cầu không bao giờ bão hòa. Khi đạt đến cảnh giới này, một cá nhân luôn cảm nhận được nhu cầu này là rất thật, càng cảm nhận, họ cũng thấy mình sung mãn hơn. Đây là những nhu cầu liên hệ đến cảm xúc khát khao liên tục vươn đến tiềm năng, trở thành trọn vẹn trong ý nghĩa làm người của mình. Đây là nhu cầu thúc đẩy con người trở thành toàn diện, sung mãn nhất. Là khả năng nhận ra chính chân giá trị của mình. Vì thế đây là cảnh giới giác ngộ mà nhiều người còn hiểu qua danh từ đắc đạo. 

Cần biết, để đạt được giới cảnh này, trước hết một cá nhân phải không còn ưu tư về cái ăn cái mặc nữa. Họ sẽ không còn quan tâm đến sự an nguy và những nhu cầu tình cảm. Họ sẽ không màng đến danh lợi và không còn quan trọng hóa chuyện mình có được tôn trọng hay không? Theo Maslow, ngày nào một cá nhân còn bị những nhu cầu D–needs chi phối, họ sẽ khó đạt được những nhu cầu B–needs. Đơn giản hơn, ta không thể bước vào giới cảnh cao hơn khi những nhu cầu căn bản thấp hơn chưa được đáp ứng thỏa mãn. 

Vì thế, chỉ có một phần rất nhỏ sống trên hành tinh này có thể đạt được giới cảnh giác ngộ một cách trọn vẹn hoàn toàn thật sự. Đã có lúc Maslow đề nghị rằng có vào khoảng chừng 2% trong chúng ta đạt được cảnh giới này.

Xem thêm các bài viết khác:

Nguồn: luanvan24.com

Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow
5 (100%) 1 vote[s]
avatar
  Theo dõi  
Thông báo về