Khái niệm về khoáng sản, khai thác khoáng sản và tăng trưởng xanh

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên làm chuyên đề tốt nghiệp thuê chia sẻ đến bạn đọc những khái niệm về khoáng sản, khai thác khoáng sản, tăng trưởng xanh và mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Khái niệm khoáng sản, khai thác khoáng sản và tăng trưởng xanh

Khái niệm khoáng sản, khai thác khoáng sản và tăng trưởng xanh

1. Khoáng sản là gì?

Luật Khoáng sản 2010 định nghĩa về khoáng sản: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.” 

Theo Luật Khoáng sản 2010, khoáng sản không có khả năng khai thác được (các loại khoáng sản ở sâu dưới đáy biển, đại dương) cũng được hiểu là khoáng sản và dù không khai thác được nhưng cũng cần có chính sách bảo vệ, ví dụ để tránh tranh chấp trong việc sở hữu tài nguyên khoáng sản. Luật cũng xem khoáng vật, khoáng chất ở các bãi thải (do chưa đủ phương tiện để phát hiện tồn tại hoặc công nghệ chưa cho phép thu hồi được các khoáng sản đi kèm) để có chính sách bảo vệ, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản. 

Trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm về khoáng sản được hiểu theo các quy định của Luật Khoáng sản năm 2010. 

Tài nguyên khoáng sản có các đặc điểm [60]: 1) tính hữu hạn và không tái tạo; 2) tính rủi ro địa chất; 3) địa tô chênh lệch (lợi thế so sánh): phụ thuộc vào điều kiện thuận lợi, khó khăn của mỏ khoáng sản, thay đổi theo thời gian, không gian và trình độ khoa học công nghệ trong khai thác, chế biến; 4) quan hệ hữu cơ với các loại tài nguyên khác: tài nguyên khoáng sản là loại tài nguyên có quan hệ hữu cơ với một số loại tài nguyên khác như tài nguyên đất, nước, rừng và biển; 5) tác động đến môi trường trong hoạt động khoáng sản. Chính đặc điểm này nên đòi hỏi phải có nhận thức đúng, đầy đủ và lựa chọn những phương pháp, công cụ quản lý thích hợp các hoạt động khoáng sản để đảm bảo phát triển bền vững (PTBV).

Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ thuê làm báo cáo thực tập , nhận làm thuê assignment , dịch vụ spss , viết tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

2. Khái niệm về khai thác khoáng sản

Khái niệm theo quản lý nhà nước 

Theo Điều 2, Luật Khoáng sản (năm 2010): Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó:

Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai thác khoáng sản. 

Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. 

Từ khái niệm trên có thể thấy cách hiểu khai thác khoáng sản theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước thiên về quy trình của kỹ thuật khai thác mỏ. 

Khái niệm từ góc độ nghiên cứu khoa học 

Theo tác giả Nguyễn Đức Quý (2010) [46], khai thác khoáng là hoạt động bao gồm toàn bộ quá trình từ khảo sát, điều tra thăm dò địa chất, khai thác, chế biến, sản xuất hàng hóa, lưu thông, phân phối và sử dụng khoáng sản. 

Khai thác khoáng sản theo nghĩa rộng gắn liền với phát triển ngành công nghiệp khai khoáng và cho đến nay, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này: 

– Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) quan niệm ngành công nghiệp khai khoáng là quá trình có hoạt động khác nhau từ việc khai thác quặng ở dạng thô, chế biến thành các dạng sản phẩm và sử dụng. Theo cách định nghĩa này, việc chế biến khoáng sản không chỉ đơn thuần là chế biến từ quặng từ dạng thô sang tinh hay chế biến sâu, mà chế biến và phát triển các ngành công nghiệp đi cùng với việc khai thác khoáng sản [162]. 

– Nhà kinh tế học tài nguyên, giáo sư Paul Collier thuộc Đại học Oxford, cho rằng khai thác khoáng sản bao gồm các bước từ giai đoạn khai thác tài nguyên, quá trình chế biến và tiêu thụ, cho đến bước cuối cùng là sử dụng nguồn thu từ tài nguyên [97]. Theo cách tiếp cận này, những bước quan trọng để biến sự giàu có tài nguyên trở thành thịnh vượng quốc gia, phúc lợi cho người dân: quyết định khai thác, ký kết hợp đồng, đảm bảo minh bạch nguồn thu, quản lý nguồn thu hiệu quả, đầu tư PTBV.

– Ngân hàng Thế giới (2009a) [168] cho rằng khai thác khoáng sản bao gồm: trao hợp đồng và giấy phép khai thác, giám sát quá trình khai thác (yêu cầu về bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động về xã hội), thu ngân sách, quản lý và phân bổ nguồn thu, thực hiện các chính sách và dự án phục vụ PTBV. Cách tiếp cận này nhằm đưa sự giàu có về khoáng sản vào PTBV. 

Như vậy, có khá nhiều cách hiểu về khai thác khoáng sản, trong nghiên cứu này, khai thác khoáng sản được hiểu theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới.

Các nội dung trong phạm trù khai thác khoáng sản 

Luận án nghiên cứu về khai thác khoáng sản với tư cách là khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế. Khai thác khoáng sản hiểu theo nghĩa là hoạt động bao gồm: công đoạn khai thác và công đoạn chế biến sản phẩm khoáng sản (có thể chỉ là sơ chế); đây là những nội dung liên quan đến các ngành công nghiệp (ngành công nghiệp về khai thác và ngành công nghiệp chế biến,…). 

Khai thác khoáng sản vừa đem lại lợi ích, vừa gây tác động tiêu cực tới môi trường, cho nên thực chất đó là sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Do đó, việc nghiên cứu về khai thác khoáng sản là đề cập tới việc về làm thế nào để giảm tác động tiêu cực về môi trường và tăng hiệu quả, đóng góp của khai thác khoáng sản vào trưởng kinh tế.

Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ giá thuê làm luận văn tốt nghiệpdịch vụ viết assignment , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Các quan niệm về tăng trưởng xanh

Trong khoảng thời gian năm 2007, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, người ta đã đặt ra vấn đề tư duy lại cách tăng trưởng kinh tế trong thời gian vừa qua và từ đó thuật ngữ “xanh” (green) đã xuất hiện trên phạm vi toàn cầu và kèm theo đó là các thuật ngữ “kinh tế xanh” (green economy), “tăng trưởng xanh” (green growth). Các thuật ngữ này được sử dụng phổ biến rộng rãi kể từ Hội nghị Rio+20 về phát triển bền vững vào tháng 6/2012. 

Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa “kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Nói một cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội” [154]. 

Theo UNEP “tăng trưởng xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội” [154]. 

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), “tăng trưởng xanh là tăng trưởng hiệu quả, sạch và có khả năng chống chịu; sự hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sạch đó là việc giảm thiểu ô nhiễm và tác động tới môi trường, và khả năng chống chịu đó là việc thích ứng được trước các tai biến thiên nhiên; và đề cao vai trò của quản lý môi trường và vai trò vốn tự nhiên trong việc ngăn ngừa các thảm họa tự nhiên” [37]. 

Cách tiếp cận tăng trưởng xanh của Ngân hàng Thế giới đề cao việc bảo vệ môi trường, đầu tư vào vốn tự nhiên và thực hiện chính sách phát triển công nghiệp xanh (các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới). Tuy nhiên, WB (2012) [37] cho rằng tăng trưởng xanh là không đủ để đạt được bền vững, mà nó phải đi cùng với các chính sách để không làm tổn hại đến người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, và họ phải được hưởng lợi từ quá trình phát triển. 

Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra sáng kiến về công nghiệp xanh (green industry) với quan niệm “công nghiệp xanh là sản xuất và phát triển công nghiệp mà không vượt quá khả năng chịu đựng của hệ thống tài nguyên hay là dẫn đến những tổn hại về sức khỏe của con người” [158]. Công nghiệp xanh là nhằm bảo vệ môi trường, khí hậu và quan tâm tới khía cạnh xã hội trong hoạt động của các doanh nghiệp. Công nghiệp xanh đưa ra cách tiếp cận hai hướng cho công nghiệp hóa: 1) xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có; 2) tạo ra các ngành công nghiệp xanh. 

Theo quan niệm của Việt Nam trong Chiến lược tăng trưởng xanh (Quyết định số 1393/QĐ–TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ), tăng trưởng xanh là nhằm “thúc đẩy quá trình tái cấu và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ kinh tế. Từ đó góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nghèo và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững”. 

Các quan niệm kể trên về tăng trưởng xanh cho thấy dù tập trung và ưu tiên về khía cạnh nào nhưng tăng trưởng xanh đều bao hàm các khía cạnh của PTBV:

Về khía cạnh kinh tế: tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế theo hướng giảm cường độ sử dụng tài nguyên và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trên cơ sở sử dụng ít hơn các nguồn tài nguyên; tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện pháp sản xuất sạch;…

Bảo vệ tài nguyên và môi trường: bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên; giảm phát thải khí nhà kính và mức độ ô nhiễm môi trường;… 

Giải quyết các vấn đề xã hội: theo hướng cải thiện tiến bộ, công bằng xã hội trên cơ sở tạo việc làm bền vững, giảm nghèo bền vững, bình đẳng về thu nhập và cơ hội,… 

Như vậy, có thể thấy rằng, tăng trưởng xanh là cách thức tăng trưởng dựa vào việc tăng năng suất và hiệu quả các yếu tố đầu vào sản xuất, sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn; đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; tăng trưởng xanh cũng hướng tới các mục tiêu xã hội như giảm nghèo, giảm sự bất bình đẳng,…

4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững

Tăng trưởng xanh là phương thức tăng trưởng bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội,… là công cụ để hướng tới phát triển bền vững. 

– Bền vững về kinh tế: cải thiện chất lượng tăng trưởng theo hướng sử dụng hiệu quả các đầu vào hoặc tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trên cơ sở sử dụng ít hơn các đầu vào, nhất là các đầu vào có nguồn gốc từ tự nhiên. 

– Bền vững về môi trường: từng bước giảm thiểu các tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường, giảm thải các chất thải ra môi trường, sử dụng các đầu vào thân thiện với môi trường. 

– Bền vững về xã hội: theo hướng giảm nghèo bền vững, giảm bất bình đẳng về thu nhập, cải thiện phúc lợi và chất lượng cuộc sống con người. 

Tăng trưởng xanh nhằm hiện thực hóa tăng trưởng bền vững và sẽ không thể đạt được phát triển bền vững nếu không thực hiện tăng trưởng xanh. 

Tăng trưởng xanh không đồng nghĩa và không thay thế phát triển bền vững, mà là một bộ phận quan trọng của phát triển bền vững, đồng thời là phương thức để phát triển kinh tế bền vững.

Bài viết liên quan:

– Khái niệm, phân loại, vai trò và công thức tính lãi suất

– Khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng

– Khái niệm cạnh tranh và phân loại cạnh tranh

– Tất tần tật về phương pháp phân tích hòa vốn

Nguồn: luanvan24.com

Khái niệm về khoáng sản, khai thác khoáng sản và tăng trưởng xanh
5 (100%) 1 vote[s]
avatar
  Theo dõi  
Thông báo về