Khái niệm và vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

Khái niệm và vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

1.Khái niệm vốn chủ sở hữu của ngân hàng là gì?

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ NH trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn NH được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động.

Về cơ bản, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại không phải hoàn trả, chủ NH có thể tăng, giảm (với sự đồng ý của cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại, hoặc quyết định các chính sách phân phối lợi nhuận vốn dĩ có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn này.

Song, là một định chế tài chính đặc biệt, vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của vốn, v.v… Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy vốn chủ sở hữu làm bàn đạp ban đầu; Còn lại, họ không ngừng huy động tiền của các chủ thể khác trong xã hội và nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình.

Do đó, ngay cả khi gia tăng về số lượng tuyệt đối theo đà phát triển của NH, vốn chủ sở hữu vẫn chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ, đôi khi là rất nhỏ (như trường hợp các NHTM Việt Nam) trong tổng nguồn vốn của NH. ví dụ: tại Deutsche Bank (một trong những NH hàng đầu Châu Âu và thế giới, có lịch sử từ năm 1876), đến 31/12/2006: Tổng nguồn vốn là 1.126 tỷ Euro, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ là 32,8 tỷ Euro.

Tuy nhiên, chiếc bánh xe nhỏ ấy lại là khớp nối cho cả guồng máy ngân hàng, đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của NHTM, đồng thời các thành phần của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại cũng được phân loại một cách chi tiết để đáp ứng các công tác đánh giá vốn của NH (sẽ đề cập ở các phần sau).

Năm 1988, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra văn bản: “Sự thống nhất quốc tế về đo lường vốn và các tiêu chuẩn vốn” (International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards ), trong đó đưa ra định nghĩa dựa trên các thành phần của vốn tại NHTM  (Capital )_ mà bản chất là vốn chủ sở hữu.

Từ đó đến nay, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi thị trường tài chính phát triển hết sức sôi động, hầu hết các NH trên thế giới đều áp dụng những chuẩn mực phân loại đó. Các nhà kinh tế và học giả Việt Nam cũng đi theo tinh thần của văn bản trên, song lại thiếu sự thống nhất về tên gọi. Điều này khiến cho việc tìm hiểu bản chất của phạm trù VCSH sao cho đúng với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam có phần phức tạp.

Trong những tài liệu thuộc lĩnh vực NH (của Việt Nam hoặc được dịch sang tiếng Việt), các tác giả đưa ra nhiều cách gọi tên khác nhau khi đề cập đến vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại: “Vốn tự có”; hoặc “VCSH”; hoặc đồng nhất các khái niệm “Vốn”, “Vốn tự có”, “VCSH”. Trong các văn bản luật có liên quan, như Luật các tổ chức tín dụng (Số 02/1997/QH10) Chương I_Điều 20_khoản 13 và bản sửa đổi bổ sung (Số 20/2004/QH11) Điều 1_khoản 3, hay trong một văn bản quan trọng có đề cập trực tiếp những vấn đề về vốn của NH là Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD (Số 457/2005/QĐ-NHNN) Phần II_Mục I_Điều 3, cũng chỉ đưa ra khái niệm “Vốn tự có”.

Tuy nhiên, như đã nói, xét về mặt bản chất, sau khi tổng kết nội dung các cuốn sách, nghiên cứu khoa học, và báo chí của Việt Nam bàn về vốn chủ tại NHTM, thì có thể thấy gốc rễ quan điểm của các tác giả đều thống nhất; tuy cách gọi khác nhau nhưng nội hàm và ngoại diên đều tương tự và đi theo tinh thần lý luận của Hiệp ước Basel  .

Vì vậy, để phù hợp với tính chất của VCSH trong tương quan với các khoản Nợ, nhằm thấy rõ những nguồn lực thực sự thuộc về chủ ngân hàng, trong khuôn khổ Khóa luận này, người viết xin sử dụng thuật ngữ Vốn chủ sở hữu.

vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

2.Vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

– Tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/kýý thác và các quỹ bảo hiểm tiền gửi

Đây là chức năng quan trọng hàng đầu của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại.

Như đã trình bày ở phần đầu, kinh doanh ngân hàng  thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều rủi ro khiến các NH đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Thực tế, NH có nhiều biện pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm tiền gửi,v.v…

Song, khi tất cả những phương pháp ngăn chặn này đều không còn hiệu quả, thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng.

Nhờ VCSH _trước tiên là quỹ dự phòng rủi ro, kế đến là lợi nhuận tích lũy, và cuối cùng là vốn cổ phần_ các khỏan tổn thất của NH sẽ được bù đắp, cho phép NH tiếp tục tồn tại. Chỉ khi các khoản thua lỗ của NH lớn tới mức tất cả các biện pháp nói trên, kể cả VCSH, đều không thể khắc phục nổi thì nó sẽ buộc phải đóng cửa.

Trường hợp NH phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường.

Vì vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay, các NH càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là những NH chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng sức cạnh tranh so với đối thủ.

– Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM

Điều kiện bắt buộc để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định. Mỗi NH mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…,phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của NH như cho vay hoặc mua chứng khoán.

– Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi

Bên cạnh nguồn vốn điều lệ ban đầu, các NHTM đều phải dựa chủ yếu vào các khỏan tiền huy động được từ các chủ thể khác trong xã hội để tiến hành các hoạt động. Những người kýý thác tài sản của mình vào các NHTM _ hoặc do ít có điều kiện và thời gian, hoặc cảm thấy không cần thiết phải phân tích chi tiết thêm các yếu tố khác_ có xu hướng đánh giá độ đảm bảo và năng lực của NH thông qua quy mô vốn của các tổ chức này.

Trong trường hợp những điều kiện khác tương tự nhau, những NH có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn NH có vốn nhỏ hơn. Tiềm lực tài chính của NH mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở công chúng, và quy mô vốn chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó. Trong điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các Bảng cân đối kế toán, các thông số tài chính để so sánh các NH trước khi đưa ra quyết định kýý thác vốn của mình cho họ; vì thế, quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại càng cần được chú ýý hơn.

– Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển

Để cạnh tranh tốt, các NHTM luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ NH, nâng cao năng suất lao động; và khi phát triển, NH cũng cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, văn phòng đại diện,v.v…VCSH được bổ sung và tăng về quy mô sẽ tài trợ cho các hoạt động này để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng.

– Phương tiện điều chỉnh hoạt động và điều tiết sự tăng trưởng

Vốn cho vay của NH sẽ tham gia vào quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, và khi doanh nghiệp gặp rủi ro thì NH khó thu hồi vốn. Nhằm đảm bảo NHTM kinh doanh an toàn, có rất nhiều quy định cho hoạt động của các trung gian tài chính này liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến VCSH.

Đó là những giới hạn về: quy mô nguồn tiền gửi được phép huy động (vì nếu vay nhiều sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán), quy mô cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, thành lập công ty con, hay mở chi nhánh, v.v…(để hạn chế việc dồn vốn vào một số ít khách hàng và lĩnh vực kinh doanh, giúp NH đa dạng hóa các đối tượng này).

o đó, nếu quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại quá nhỏ, NH sẽ thực sự rơi vào trạng thái ngột ngạt và khó có khả năng xoay sở khi bị trói buộc trong những định mức, giới hạn ấy.

Đồng thời, để sự tăng trưởng của một NH có thể được duy trì ổn định và lâu dài, các cơ quan quản lý NH và thị trường tài chính thường yêu cầu vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và các tài sản rủi ro khác, sao cho tương xứng với quy mô rủi ro của NH.