Khái niệm và vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập.

Hãy liên hệ với đội ngũ Luận Văn 24 để được hỗ trợ sử dụng giá viết luận văn thuê ngành Ngân hàng thương mại.Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

1. Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế. Nó đặc biệt vì nhiều lý do khác nhau, nhưng lý do quan trọng nhất là loại hàng hoá chủ yếu mà ngân hàng kinh doanh là loại hàng hoá đặc biệt: tiền tệ. Trong ngôn ngữ các nước phương Tây, từ Banque trong tiếng Pháp cổ và Banca trong tiếng Ý có nghĩa là “cái ghế dài” hay “bàn của người đổi tiền”, dùng để chỉ nơi để đổi tiền, thường có bàn đổi tiền và ghế cho khách hàng ngồi trong cửa hiệu tại các trung tâm thương mại (trích dẫn Nguyễn Văn Tiến 2005). Trong nghĩa Hán Việt, bản thân từ “Ngân hàng” cũng đã nói lên một cách rõ ràng loại hàng hoá mà loại hình tổ chức này kinh doanh là tiền tệ (ngân).

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng được gọi là một loại trung gian tài chính theo nghĩa là đơn vị chuyển những khoản tiết kiệm của tổ chức, cá nhân (có tiền nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian gửi vào ngân hàng để sinh lời hoặc vì mục đích an toàn hoặc để sử dụng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng khác) sang cho các cá nhân, đơn vị cần tiền để hoạt động.

Ở mỗi quốc gia lại có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại. Ở Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Ấn Độ, ngân hàng thương mại được định nghĩa là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.

Tại Việt Nam, trong nỗ lực xây dựng một khuôn khổ chung cho quản trị hoạt động ngân hàng thương mại, ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 với nền tảng dựa trên Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP. Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011.

Luật quy định rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân khác với mục đích phát triển kinh tế xã hội.

1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại

Tùy vào luật pháp của từng quốc gia và theo từng thời kỳ, NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích chủ yếu là tạo ra lợi nhuận. Một cách tổng quát, hoạt động kinh doanh của NHTM là việc cung cấp các “dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của khách hàng” gồm: Dịch vụ tiền gửi và tiết kiệm; Cho vay và đầu tư dự án; Dịch vụ chuyển tiền và thanh toán; Các dịch vụ tài chính và tư vấn; Các dịch vụ ngân hàng quốc tế (trích dẫn Nguyễn Văn Tiến 2005).

Với các loại hình hoạt động kinh doanh này, NHTM có ba chức năng cơ bản:

Chức năng trung gian tín dụng: NHTM đóng vai trò trung gian trong việc tập trung, huy động các nguồn tiền tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế, bao gồm: tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế; biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng), đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

Thực tế, trong nền kinh tế luôn tồn tại tình trạng, tại một thời điểm, có một số lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể chưa cần dùng đến, mặt khác lại có một số lượng chủ thể khác tạm thời thiếu vốn để hoạt động, kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Để giải quyết tình trạng này, NHTM đóng vai trò là trung gian, là nhịp cầu nối liền chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế lại với nhau.

Có thể nói, ngân hàng là một đơn vị kinh doanh sản phẩm là đồng vốn. Ngân hàng vừa là nơi “cung cấp” đồng thời cũng là nơi “tiêu thụ” đồng vốn của khách hàng. Tất cả những hoạt động “mua, bán” này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ ngân hàng từ truyền thống đến hiện đại. Chính nhờ các nghiệp vụ đa dạng do ngân hàng cung cấp mà nhiều nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng hiện đại ra đời, phát triển và gắn với chức năng trung gian tín dụng.

Hoạt động tín dụng của NHTM đã góp phần khắc phục các hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu tiền tệ bổ sung. Với chức năng này, NHTM làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu cho các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau, và điều này có vai trò to lớn đối với nền kinh tế, cụ thể:

Một mặt, ngân hàng tập trung hầu hết những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và biến nó từ chỗ là phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế. Mặt khác, sử dụng nguồn vốn này cung ứng cho nền kinh tế sẽ giúp dòng vốn được luân chuyển nhiều lần, tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Chức năng trung gian tín dụng được hình thành ngay từ lúc các NHTM hình thành. Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống xã hội.

(ii) Chức năng trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán:

NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán để thực hiện các giao dịch giữa người mua với người bán, giữa các khách hàng với nhau nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại của các đối tượng nêu trên.

Xuất phát từ chức năng giữ tiền giúp các cá nhân, các doanh nghiệp, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Các NHTM thực hiện nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền hàng hóa và dịch vụ cho các cá nhân, doanh nghiệp theo lệnh của chủ tài khoản. Khách hàng sẽ mở tài khoản tại các NHTM và ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc ủy nhiệm cho ngân hàng thu các khoản phải trả từ người mua. Như vậy, các cá nhân, doanh nghiệp không phải thực hiện các công việc mất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không đảm bảo an toàn như đếm tiền, nhận tiền,… trong quá trình thanh toán với các đối tác trong nền kinh tế.

Chức năng làm trung gian thanh toán của NHTM ngày nay, không chỉ đơn thuần và mang tính truyền thống như trước, mà cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại đã tạo điều kiện cho các NHTM thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử trực tuyến với nhau nhanh chóng và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, thúc đẩy luân chuyển vốn và quá trình lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển.

Đối với khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một sổ tài khoản để thuận lợi việc chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lợi khác như các chương trình khuyến mại về phí dịch vụ, liên kết thanh toán,…

Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng. Do vậy, ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, NHTM còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng, với những ưu thế của mình như hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong và ngoài nước, mối quan hệ với các khách hàng, hệ thống trang thiết bị thông tin hiện đại về kho quỹ,… nên có thể cung cấp các dịch vụ ngày càng đa dạng cho khách hàng như tư vấn tài chính, đầu tư, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu đảm bảo hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí, dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản an toàn vật có giá, lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán, chuyển lãi đó vào tài khoản cho khách hàng,… từ đó hỗ trợ NHTM thực hiện tốt hơn hai chức năng nêu trên.

2. Khái niệm vốn chủ sở hữu của ngân hàng là gì?

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ NH trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn NH được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động.

Về cơ bản, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại không phải hoàn trả, chủ NH có thể tăng, giảm (với sự đồng ý của cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại, hoặc quyết định các chính sách phân phối lợi nhuận vốn dĩ có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn này.

Song, là một định chế tài chính đặc biệt, vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của vốn, v.v… Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy vốn chủ sở hữu làm bàn đạp ban đầu; Còn lại, họ không ngừng huy động tiền của các chủ thể khác trong xã hội và nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình.

Do đó, ngay cả khi gia tăng về số lượng tuyệt đối theo đà phát triển của NH, vốn chủ sở hữu vẫn chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ, đôi khi là rất nhỏ (như trường hợp các NHTM Việt Nam) trong tổng nguồn vốn của NH. ví dụ: tại Deutsche Bank (một trong những NH hàng đầu Châu Âu và thế giới, có lịch sử từ năm 1876), đến 31/12/2006: Tổng nguồn vốn là 1.126 tỷ Euro, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ là 32,8 tỷ Euro.

Tuy nhiên, chiếc bánh xe nhỏ ấy lại là khớp nối cho cả guồng máy ngân hàng, đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của NHTM, đồng thời các thành phần của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại cũng được phân loại một cách chi tiết để đáp ứng các công tác đánh giá vốn của NH (sẽ đề cập ở các phần sau).

Năm 1988, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra văn bản: “Sự thống nhất quốc tế về đo lường vốn và các tiêu chuẩn vốn” (International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards ), trong đó đưa ra định nghĩa dựa trên các thành phần của vốn tại NHTM  (Capital )_ mà bản chất là vốn chủ sở hữu.

Từ đó đến nay, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi thị trường tài chính phát triển hết sức sôi động, hầu hết các NH trên thế giới đều áp dụng những chuẩn mực phân loại đó. Các nhà kinh tế và học giả Việt Nam cũng đi theo tinh thần của văn bản trên, song lại thiếu sự thống nhất về tên gọi. Điều này khiến cho việc tìm hiểu bản chất của phạm trù VCSH sao cho đúng với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam có phần phức tạp.

Trong những tài liệu thuộc lĩnh vực NH (của Việt Nam hoặc được dịch sang tiếng Việt), các tác giả đưa ra nhiều cách gọi tên khác nhau khi đề cập đến vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại: “Vốn tự có”; hoặc “VCSH”; hoặc đồng nhất các khái niệm “Vốn”, “Vốn tự có”, “VCSH”. Trong các văn bản luật có liên quan, như Luật các tổ chức tín dụng (Số 02/1997/QH10) Chương I_Điều 20_khoản 13 và bản sửa đổi bổ sung (Số 20/2004/QH11) Điều 1_khoản 3, hay trong một văn bản quan trọng có đề cập trực tiếp những vấn đề về vốn của NH là Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD (Số 457/2005/QĐ-NHNN) Phần II_Mục I_Điều 3, cũng chỉ đưa ra khái niệm “Vốn tự có”.

Tuy nhiên, như đã nói, xét về mặt bản chất, sau khi tổng kết nội dung các cuốn sách, nghiên cứu khoa học, và báo chí của Việt Nam bàn về vốn chủ tại NHTM, thì có thể thấy gốc rễ quan điểm của các tác giả đều thống nhất; tuy cách gọi khác nhau nhưng nội hàm và ngoại diên đều tương tự và đi theo tinh thần lý luận của Hiệp ước Basel .

>>>Xem thêm bài viết liên quan:

Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

+ Dịch vụ thương mại là gì? Vai trò của dịch vụ thương mại

Vì vậy, để phù hợp với tính chất của VCSH trong tương quan với các khoản Nợ, nhằm thấy rõ những nguồn lực thực sự thuộc về chủ ngân hàng, trong khuôn khổ Khóa luận này, người viết xin sử dụng thuật ngữ Vốn chủ sở hữu.

vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

3. Vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại

– Tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/kýý thác và các quỹ bảo hiểm tiền gửi

Đây là chức năng quan trọng hàng đầu của vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại.

Như đã trình bày ở phần đầu, kinh doanh ngân hàng  thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều rủi ro khiến các NH đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Thực tế, NH có nhiều biện pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm tiền gửi,v.v…

Song, khi tất cả những phương pháp ngăn chặn này đều không còn hiệu quả, thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng.

Nhờ VCSH _trước tiên là quỹ dự phòng rủi ro, kế đến là lợi nhuận tích lũy, và cuối cùng là vốn cổ phần_ các khỏan tổn thất của NH sẽ được bù đắp, cho phép NH tiếp tục tồn tại. Chỉ khi các khoản thua lỗ của NH lớn tới mức tất cả các biện pháp nói trên, kể cả VCSH, đều không thể khắc phục nổi thì nó sẽ buộc phải đóng cửa.

Trường hợp NH phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường.

Vì vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay, các NH càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là những NH chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng sức cạnh tranh so với đối thủ.

– Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM

Điều kiện bắt buộc để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định. Mỗi NH mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…,phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của NH như cho vay hoặc mua chứng khoán.

– Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi

Bên cạnh nguồn vốn điều lệ ban đầu, các NHTM đều phải dựa chủ yếu vào các khỏan tiền huy động được từ các chủ thể khác trong xã hội để tiến hành các hoạt động. Những người kýý thác tài sản của mình vào các NHTM _ hoặc do ít có điều kiện và thời gian, hoặc cảm thấy không cần thiết phải phân tích chi tiết thêm các yếu tố khác_ có xu hướng đánh giá độ đảm bảo và năng lực của NH thông qua quy mô vốn của các tổ chức này.

Trong trường hợp những điều kiện khác tương tự nhau, những NH có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn NH có vốn nhỏ hơn. Tiềm lực tài chính của NH mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở công chúng, và quy mô vốn chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó. Trong điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các Bảng cân đối kế toán, các thông số tài chính để so sánh các NH trước khi đưa ra quyết định kýý thác vốn của mình cho họ; vì thế, quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại càng cần được chú ýý hơn.

– Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển

Để cạnh tranh tốt, các NHTM luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ NH, nâng cao năng suất lao động; và khi phát triển, NH cũng cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, văn phòng đại diện,v.v…VCSH được bổ sung và tăng về quy mô sẽ tài trợ cho các hoạt động này để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng.

– Phương tiện điều chỉnh hoạt động và điều tiết sự tăng trưởng

Vốn cho vay của NH sẽ tham gia vào quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, và khi doanh nghiệp gặp rủi ro thì NH khó thu hồi vốn. Nhằm đảm bảo NHTM kinh doanh an toàn, có rất nhiều quy định cho hoạt động của các trung gian tài chính này liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến VCSH.

Đó là những giới hạn về: quy mô nguồn tiền gửi được phép huy động (vì nếu vay nhiều sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán), quy mô cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, thành lập công ty con, hay mở chi nhánh, v.v…(để hạn chế việc dồn vốn vào một số ít khách hàng và lĩnh vực kinh doanh, giúp NH đa dạng hóa các đối tượng này).

o đó, nếu quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại quá nhỏ, NH sẽ thực sự rơi vào trạng thái ngột ngạt và khó có khả năng xoay sở khi bị trói buộc trong những định mức, giới hạn ấy.

Đồng thời, để sự tăng trưởng của một NH có thể được duy trì ổn định và lâu dài, các cơ quan quản lý NH và thị trường tài chính thường yêu cầu vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và các tài sản rủi ro khác, sao cho tương xứng với quy mô rủi ro của ngân hàng.

Nguồn: luanvan24.com

Từ khóa: Nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nguồn vốn là gì, tài trợ thương mại là gì, vốn chủ sở hữu là gì, vốn là gì, vốn tự có của ngân hàng, nguồn vốn là gì, chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, định chế tài chính là gì, huy động vốn là gì, huy động vốn của ngân hàng thương mại, đặc điểm của ngân hàng thương mại

Khái niệm và vai trò vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại
5 (100%) 5 vote[s]
avatar
  Theo dõi  
Thông báo về