Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh một cách chi tiết nhất. Hãy tham khảo ngay nếu bạn đang đau đầu với bài luận văn về chủ đề này.

Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

1. Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

1.1. Khái niệm bán hàng

Bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại .Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền

Xét về góc độ kinh tế : Bán hàng là quá trình hàng hoá của doanh nghiệp được chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền) 

Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây: 

Có sự trao đổi thoả thuận giữa người mua và người bán, người bán đồng ý bán, người mua đồng ý mua , họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. 

Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hoá và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình

1.2. Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh

xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thi kết quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh thường là cuối tháng ,cuối quý, cuối năm, tuỳ thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp .

1.3. Mối quan hệ về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Bán hàng là khâu cuối cùng của trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp còn xác định kết quả kinh doanh là căn cứ quan trọng để đơn vị quyết định tiêu thụ hàng hoá nữa hay không .Do đó có thể nói giữa bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có mối quan hệ mật thiết .Kết quả bán hàng là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp còn bán hàng là phương tiện trực tiếp để đạt được mục đích đó.

2. Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

Bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với bản thân doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có thu nhập để bù đắp những chi phí bỏ ra, có điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh ,nâng cao đời sống của người lao động ,tạo nguồn tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân.Việc xác định chính xác kết quả bán hàng là cơ sở xác định chính xác hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đối với nhà nước thông qua việc nộp thuế, phí ,lệ phí vào ngân sách nhà nước, xác định cơ cấu chi phí hợp lý và sử dụng có hiệu quả cao số lợi nhuận thu được giải quyết hài hoà giữa các lợi ích kinh tế: Nhà nước, tập thể và các cá nhân người lao động.

3. Yêu cầu của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Như đã khẳng định, bán hàng và xác định kết quả bán hàng có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp .Kế toán trong các doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản đó trong doanh nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế,tài chính của doanh nghiệp,có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quản lý bán hàng và xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp đó .Quản lý bán hàng là quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hợp đồng kinh tế. 

Yêu cầu đối với kế toán bán hàng là phải giám sát chặt chẽ hàng hoá tiêu thụ trên tất cả các phương diện : số lượng, chất lượng…Tránh hiện tượng mất mát hư hỏng hoặc tham ô lãng phí, kiểm tra tính hợp lý của các khoản chi phí đồng thời phân bổ chính xác cho đúng hàng bán để xác định kết quả kinh doanh.Phải quản lý chăt chẽ tình hình thanh toán của khách hàng yêu cầu thanh toán đúng hình thức và thời gian tránh mất mát ứ đọng vốn.

Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ dịch vụ viết báo cáo thực tập , dịch vụ làm assignment , chạy spss thuê , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

4. Doanh thu bán hàng và các khoản làm giảm trừ doanh thu

4.1. Doanh thu bán hàng

Khái niệm:

Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền sẽ thu được từ các hoạt động giao dịch từ các hoạt động giao dịch như bán sản phẩm hàng hoá cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).

Điều kiện ghi nhận doanh thu

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau:

  • Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua 
  • Doanh nghiệp không nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá 
  • Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn 
  • Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
  • Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng

Nguyên tắc hạch toán doanh thu bán hàng

Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, khi viết hoá đơn bán hàng phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT,các khoản phụ thu,thuế GTGT phải nộp và tổng giá thanh toán. Doanh thu bán hàng được phản ánh theo số tiền bán hàng chưa có thuế GTGT

Đối với hàng hoá chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu được phản ánh trên tổng giá thanh toán 

Đối với hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu thì doanh thu tính trên tổng giá mua bán 

Doanh thu bán hàng (kể cả doanh thu nội bộ) phải được theo dõi chi tiết theo từng loại sản phẩm nhằm xác định chính xác, đầy đủ kết quả kinh doanh của từng mặt hàng khác nhau. Trong đó doanh thu nội bộ là doanh thu của những sản phẩm hàng hoá cung cấp lẫn nhau giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một hệ thống tổ chức (cùng tổng công ty ít nhất là 3 cấp: Tổng công ty-Công ty-Xí nghiệp) như : Giá trị các loại sản phẩm, hàng hóa được dùng để trả lương cho cán bộ công nhân viên ,giá trị các sản phẩm đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp.

4.2. Các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu theo quy định bao gồm : Chiết khấu thương mại ,giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.

Khái niệm:

– Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với số lượng lớn 

– Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu 

– Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán

Cách xác định kết quả bán hàng

Kết quả bán hàng = Doanh thu bán hàng – Giá vốn hàng bán – CPBH, CPQLDN phân bổ cho số hàng bán

Trong đó:

Doanh thu bán hàng thuần = Tổng doanh thu bán hàng – Các khoản giảm trừ doanh thu theo quy định – Thuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp NSNN, thuế GTGT phải nộp (Áp dụng pp trực tiếp)

5. Các phương thức tính trị giá vốn hàng xuất kho để bán

5.1. Phương pháp nhập trước – xuất trước 

Phương pháp này dựa trên giả thuyết là hàng hoá nhập trước thì sẽ được xuất trước.Do đó, giá trị hàng hóa xuất kho được tính hết theo giá nhập kho lần trước rồi mới tính tiếp giá nhập kho lần sau.Như vậy giá trị hàng hóa tồn sẽ được phản ánh với giá trị hiện tại vì được tính giá của những lần nhập kho mới nhất.

5.2. Phương pháp nhập sau – xuất trước

Phương pháp này dựa trên giả thuyết là hàng hoá nào nhập kho sau nhất sẽ được xuất ra sử dụng trước.Do đó ,giá trị hàng hoá xuất kho được tính hết theo giá nhập kho mới nhất ,rồi tính tiếp theo giá nhập kho kế tiếp sau đó. Như vậy giá trị hàng hoá tồn kho sẽ được tính theo giá tồn kho cũ nhất.

5.3. Phương pháp bình quân gia quyền 

Là phương pháp căn cứ vào giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị hàng nhập trong kỳ để tính giá bình quân của 1 đơn vị hàng hoá .Sau đó tính giá trị hàng hoá xuất kho bằng cách lấy số lượng hàng hoá xuất kho nhân với giá đơn vị bình quân .Nừu giá đơn vị bình quân được tính theo từng lần nhập hàng thì gọi là bình quân gia quyền liên hoàn.Nừu giá đơn vị bình quân chỉ được được tính một lần lúc cuối tháng thì gọi là bình quân gia quyền lúc cuối tháng. 

5.4. Phương pháp giá thực tế đích danh 

Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp quản lý hàng hoá theo từng lô hàng nhập. Hàng xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá của lô hàng đó để tính. Phương pháp này thường sử dụng với những loại hàng có giá trị cao, thường xuyên cải tiến mẫu mã chất lượng.

6. Các phương thức bán hàng

Phương thức bán hàng là cách thức doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng và thu được tiền hoặc quyền thu tiền về số lượng hàng hoá tiêu thụ

*Các phương thức bán hàng 

Hoạt động mua bán hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện qua hai phương thức: bán buôn và bán lẻ. Trong đó,bán buôn là bán hàng cho các đơn vị sản xuất kinh doanh để tiếp tục quá trình lưu chuyển hàng hoá còn bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng,chấm dứt quá trình lưu chuyển hàng hoá. Hàng hoá bán buôn và bán lẻ có thể thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau. 

6.1. Đối với bán buôn 

Có hai phương thức bán hàng là bán hàng qua kho và bán hàng vận chuyển thẳng 

Phương thức bán hàng qua kho

Theo phương thức này, hàng hoá mua về được nhập kho rồi từ kho xuất bán ra. Phương thức bán hàng qua kho có hai hình thức giao nhận. 

Hình thức nhận hàng: Theo hình thức này bên mua sẽ nhận hàng tại kho bên bán hoặc đến một địa điểm do hai bên thoả thuận theo hợp đồng, nhưng thường là do bên bán quy định. 

Hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, bên bán sẽ chuyển hàng hoá đến kho của bên mua hoặc đến một địa điểm do bên mua quy định để giao hàng 

Phương thức bán hàng vận chuyển

Theo phương thức này, hàng hoá sẽ được chuyển thẳng từ đơn vị cung cấp đến đơn vị mua hàng không qua kho của đơn vị trung gian. Phương thức bán hàng vận chuyển thẳng có hai hình thức thanh toán. 

Vận chuyển có tham gia thanh toán: Theo hình thức này, hàng hoá được vận chuyển thẳng về mặt thanh toán, đơn vị trung gian vẫn làm nhiệm vụ thanh toán tiền hàng với đơn vị cung cấp và thu tiền của đơn vị mua. 

Vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Theo hình thức này hàng hoá được vận chuyển thẳng, về thanh toán, đơn vị trung gian không làm nhiệm vụ thanh toán tiền với đơn vị cung cấp, thu tiền của đơn vị mua. Tuỳ hợp đồng, đơn vị trung gian được hưởng một số phí nhất định ở bên mua hoặc bên cung cấp.

6.2. Đối với bán lẻ

Có 3 phương thức bán hàng là: Bán hàng thu tiền tập trung bán hàng không thu tiền tập trung và bán hàng tự động. 

Phương thức bán hàng thu tiền tập trung 

Theo phương thức này, nhân viên bán hàng chỉ phụ trách việc giao hàng, còn việc thu tiền có người chuyên trách làm công việc này. Trình tự được tiến hành như sau: Khách hàng xem xong hàng hoá và đồng ý mua,người bán viết “ hóa đơn bán lẻ” giao cho khách hàng đưa đến chỗ thu tiền thì đóng dấu “ đã thu tiền”, khách hàng mang hoá đơn đó đến nhận hàng. Cuối ngày, người thu tiền tổng hợp số tiền đã thu để xác định doanh số bán. Định kỳ kiểm kê hàng hoá tại quầy, tính toán lượng hàng đã bán ra để xác định tình hình bán hàng thừa thiếu tại quầy. 

Phương thức bán hàng không thu tiền tập trung

Theo phương thức này, nhân viên bán hàng vừa làm nhiệm vụ giao hàng, vừa làm nhiệm vụ thu tiền. Do đó, trong một cửa hàng bán lẻ việc thu tiền bán hàng phân tán ở nhiều điểm. Hàng ngày hoặc định kỳ tiến hành kiểm kê hàng hoá còn lại để tính lượng bán ra, lập báo cáo bán hàng, đối chiếu doanh số bán theo báo cáo bán hàng với số tiền thực nộp để xác định thừa thiếu tiền bán hàng. 

Phương thức bán hàng tự động 

Theo phương thức này, người mua tự chọn hàng hoá sau đó mang đến bộ phận thu ngân kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền. Cuối ngày nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ. Định kỳ kiểm kê, xác định thừa, thiếu tiền bán hàng. 

6.3. Các phương thức thanh toán

– Thanh toán ngay bằng tiền mặt: hàng hoá của công ty sau khi giao cho khách hàng, khách hàng thanh toán ngay bằng tiền mặt 

– Thanh toán không dùng tiền mặt: Theo phương thức này, hàng hoá của công ty sau khi giao cho khách hàng ,khách hàng có thể thanh toán bằng séc hoặc chuyển khoản

Bài viết liên quan:

Lạm phát là gì và những vấn đề lý luận về lạm phátCơ sở lý luận về quản trị chiến lược

Hướng dẫn chi tiết các cách trích dẫn tài liệu tham khảo phổ biến

– Định nghĩa nhà quản trị và các chức năng quản trị

– Tất tần tật về phương pháp phân tích hòa vốn

Nguồn: luanvan24.com

Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
5 (100%) 2 vote[s]
avatar
2 Chủ đề bình luận
0 Trả lời chủ đề
0 Người theo dõi
 
Phản ứng nhiều nhất
Chủ đề bình luận nóng nhất
2 Tác giả bình luận
Anh TuấnTrần Ngọc Linh Tác giả bình luận gần đây
  Theo dõi  
Thông báo về
Trần Ngọc Linh
Khách
Trần Ngọc Linh

co tai lieu ve luan van tot nghiep nganh ke toan ban hang khong. cho minh xin voi trngoclinh@gmail.com

Anh Tuấn
Khách
Anh Tuấn

Bên bạn có mẫu Luận văn kế toán ko gửi mình tk với tuanda3896@gmail.com. Mình cảm ơn